Cần quy định cụ thể về sửa chữa, hủy tờ khai hải quan

Cục Hải quan TP.HCM vừa tổ chức góp ý cho dự thảo Thông tư quy định về thủ tục hải quan kiểm tra giám sát hải quan; thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hóa XNK, hướng dẫn Luật Hải quan. Trong đó, đơn vị kiến nghị cần quy định cụ thể  về sửa chữa tờ khai, khai bổ sung hồ sơ hải quan, hủy tờ khai để tránh việc gian lận, phát sinh vướng mắc. 

Hải quan cảng Sài Gòn KV1 làm thủ tục cho DN. Ảnh: T.Hòa

Chặt chẽ về sửa chữa tờ khai

Theo Cục Hải quan TP.HCM, tại Điểm a khoản 1, Điều 11 về sửa chữa tờ khai, khai bổ sung hồ sơ hải quan, Cục đề nghị bổ sung và sửa chữa như sau: Sửa chữa các thông tin, khai bổ sung hồ sơ hải quan sau khi Hệ thống phân luồng tờ khai nhưng trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc trước khi thông quan, giải phóng hàng hóa. Bởi theo Hải quan TP.HCM, nếu quy định như dự thảo thì sẽ có trường hợp sau khi kiểm tra hồ sơ và trước khi thông quan, giải phóng hàng doanh nghiệp phát hiện sai sót và sửa chữa thì sẽ giải quyết như thế nào.

Tại khoản 2 Điều 11 dự thảo thông tư cho phép doanh nghiệp sửa chữa, khai bổ sung nhưng chưa quy định cụ thể hồ sơ xuất trình cho cơ quan Hải quan phù hợp với từng tiêu chí sửa chữa, như vậy sẽ dẫn đến việc thực hiện chưa thống nhất giữa các đơn vị hải quan, gây sự hiểu lầm, khó dễ từ phía cơ quan Hải quan.

Theo phân tích của Cục Hải quan TP.HCM, trách nhiệm của công chức hải quan là phải thực hiện: “ …kiểm tra, xác định tính trung thực, chính xác và hợp lý của việc khai bổ sung”. Do đó, đơn vị đề nghị trong thông tư cần quy định cụ thể hồ sơ xuất trình cho cơ quan Hải quan phù hợp với từng tiêu chí xin sửa chữa để thực hiện thống nhất. Chẳng hạn, sửa chữa trọng lượng, đơn giá thì yêu cầu loại hồ sơ gì, cần xác minh thì phải làm như thế nào.

Điểm b4 khoản 3 quy định về việc khai bổ sung, trong thời hạn hai giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận thông tin hoặc hồ sơ (nếu có) đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Trong thời hạn tám (08) giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận thông tin hoặc hồ sơ (nếu có) đối với trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này.

Theo Hải quan TP.HCM, quy định trên rất khó thực hiện và không khả thi khi cần phải xác định tính trung thực của việc khai báo bổ sung. Bởi vì, thứ nhất, doanh nghiệp yêu cầu giải quyết ngay, nhanh chóng, cần gấp để xin cấp C/O, nhưng việc xác minh lại đòi hỏi phải có thời gian và phụ thuộc vào cơ quan, nơi mà cơ quan Hải quan gửi phiếu yêu cầu xác minh. Chính vì thế, khi công chức hải quan yêu cầu chứng minh thì gặp sự phản ứng của doanh nghiệp. Hai là, hiện nay, văn bản cho phép sửa chữa sau thông quan nhưng chưa quy định cụ thể hồ sơ xuất trình cho cơ quan Hải quan phù hợp với từng tiêu chí sửa chữa dẫn đến việc thực hiện chưa thống nhất giữa các đơn vị hải quan.

Ngoài ra, qua quá trình theo dõi thực hiện việc yêu cầu sửa chữa, bổ sung hồ sơ hải quan sau thông quan đối với hàng xuất khẩu, đặc biệt là tờ khai phân luồng xanh, mục đích doanh nghiệp là xin cấp C/O, một số tiêu chí về đơn giá, trị giá, số lượng, trọng lượng sẽ dẫn đến phát sinh doanh nghiệp gian lận trong hoàn thuế VAT và nhằm mục đích khác mà cơ quan hải quan chưa biết được.

Chính vì thế, Cục Hải quan TP.HCM đề nghị sửa lại 2 nội dung trên như sau: Đối với những tờ khai sửa chữa, khai bổ sung hồ sơ hải quan sau thông quan đối với hàng xuất khẩu theo các tiêu chí về đơn giá, số lượng, trị giá… có liên quan đến hoàn thuế VAT yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp chứng từ thanh toán làm cơ sở xem xét chấp thuận cho sửa chữa tờ khai, bổ sung hồ sơ hải quan sau thông quan; Cần có biện pháp chế tài đối với các trường hợp sửa chữa tờ khai, khai bổ sung hồ sơ hải quan sau thông quan để nhằm hạn chế việc sai sót, nâng cao trách nhiệm trong việc khai báo hải quan của doanh nghiệp và ngăn chặn việc doanh nghiệp gian lận hàng hóa và hoàn thuế VAT.

Tránh gian lận từ hủy tờ khai

Tại Điều 12 quy định về hủy tờ khai hải quan, Cục Hải quan TP.HCM đề nghị quy định rõ thủ tục hủy tờ khai đối với trường hợp doanh nghiệp không có công văn đề nghị hủy vì đối với hàng hóa XK, NK có thuế nếu không quy định rõ thì sẽ không quản lý được số thuế được hủy và hạch toán trên hệ thống kế toán vì không có chứng từ ghi sổ liên quan. (Trước kia bắt buộc doanh nghiệp có công văn đề nghị và công chức làm tờ trình, lãnh đạo chi cục duyệt sau đó hủy trên hệ thống và tờ trình là chứng từ ghi sổ kèm theo trên hệ thống kế toán để kiểm tra số thuế được hủy).

Việc cơ quan Hải quan yêu cầu người khai hải quan phải giải trình trong thời hạn 3 ngày làm việc là không khả thi. Ở đây cần phải nói rõ là: 3 ngày làm việc kể từ khi người khai hải quan nhận được yêu cầu của cơ quan Hải quan về việc phải giải trình thì sẽ thiết thực hơn, dễ có tính khả thi hơn.

Cơ quan Hải quan không thể kiểm soát và thực hiện được quy định này, doanh nghiệp có thể lợi dụng để hệ thống phân luồng Xanh hoặc Vàng, gây thất thu thuế. Thực tế quy định như hiện nay là tương đối chặt chẽ, trách nhiệm hủy tờ khai là của doanh nghiệp, nếu không có văn bản đề nghị hủy tờ khai thì hệ thống sẽ báo nợ. Không nên quy trách nhiệm cho hải quan, trong thực tế hải quan đã từng làm phát sinh nợ trên hệ thống tràn lan.

Nếu quy định như trên, hệ thống phải kiểm soát được việc khai báo của doanh nghiệp, 1 hồ sơ chỉ được khai báo 1 lần, nếu khai báo sai được phép sửa, không cho đăng ký lại bằng 1 tờ khai khác.